Hiển thị các bài đăng có nhãn Thiết bị quang học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thiết bị quang học. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Năm, 4 tháng 9, 2014
Hộp nối quang âm tường 2 FO
Nguồn: http://www.postef.com.vn/
|
Hướng dẫn đấu nối : Hộp đấu nối quang trong nhà ODF 8 FO
|
Dây nhảy quang Single-mode SC/UPC-FC/UPC
Dây nhảy quang Single-mode SC/UPC-FC/UPC
FC/UPC-SC/UPC,SM9/125, G652D,3.0mm,3M
ILA1: 0.14dB RLA1: 52dB
ILB1: 0.11dB RLB1: 53dB
IL= Insertion loss=0.17A :
-Suy hao tiếp xúc: độ giảm công suất quang (optical power) ở hai đầu ghép nối (Giá trị thông thường từ 0,2dB – 0,5dB)
RL=Return loss=55.4dB
Đầu nối quang: gồm nhiều thành phần kết hợp lại với nhau, chúng có nhiều kiểu như SC/PC, ST/UPC, FC/APC… Nhưng có hai thành phần bạn cần quan tâm, đó là kiểu đầu nối SC, ST, FC…và điểm tiếp xúc PC, UPC, APC.
SC (subscriber connector), ST (straight tip), FC (fiber connector) là các kiểu đầu nối quang có dạng hình vuông, hình tròn…
Hình 12
Bên trong đầu nối là ferrule, giúp bảo vệ và giữ thẳng sợi cáp quang. Ferrule được làm bằng thủy tinh, kim loại, plastic hoặc gốm (ceramic) – trong đó chất liệu gốm là tốt nhất.
Hình 13
Đỉnh của ferrule được làm nhẵn (polish) với ba dạng điểm tiếp xúc chính PC (Physical Contact), UPC (Ultra Physical Contact) và APC (Angled Physical Contact), giúp đảm bảo chỗ ghép nối có ít ánh sáng bị mất hoặc bị phản xạ nhất.
Hình 14
Dạng PC được vạt cong, sử dụng với các kiểu đầu nối FC, SC, ST. PC, có giá trị suy hao phản xạ (optical return loss) là 40dB. Vì giá trị này khá cao, nên đã thúc đẩy các nhà sản xuất tiếp tục tìm kiếm các giải pháp tốt hơn.
UPC là giải pháp tiếp theo, nó cũng được vạt cong như PC nhưng giảm return loss hơn. UPC có giá trị return loss 50dB. UPC dùng với các đầu nối FC, SC, ST, DIN, E2000. APC được vạt chéo 8 độ, loại bỏ hầu hết sự phản xạ ở điểm ghép nối và có giá trị return loss 60dB. Bạn nên lưu ý là khi đọc các thông số kỹ thuật quang đề cập mức suy hao có thể làm bạn dễ hiểu sai về dấu “+” và “-“. Chẳng hạn, với kết quả tính toán, đo đạc mức độ suy hao là -40dB. Trên thông số kỹ thuật có thể viết giá trị suy hao (loss values) là 40dB hoặc số đo mức phản xạ là -40dB hay độ lợi (gain) là -40dB. Tất cả đều như nhau, do đó bạn cần chú ý cách viết để tránh hiểu sai.
Hiện nay, giá thành cáp quang và các phụ kiện quang đã thấp hơn so với cách nay vài năm. Cùng với việc ứng dụng nhiều giải pháp như IP Camera, VoIP, Hội nghị truyền hình qua mạng, kết nối mạng gigabit giữa các tòa nhà, văn phòng, xưởng sản xuất; cáp quang dần trở thành lựa chọn số một cho việc triển khai hạ tầng mạng đòi hỏi nhiều băng thông và tốc độ cao.
Thứ Tư, 3 tháng 9, 2014
Fiber optic video converter
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
The VERSITRON VersiVision Series video/data transmitter and receiver support broadcast quality transmission of 8-bit digitally encoded video and 1 channel bi-directional data plus 1 channel bi-directional contact closure over one multimode or singlemode optical fiber. The units are directly compatible with NTSC, PAL, and SECAM camera systems and support RS-485 data protocols. RS-232 and RS-422 data protocols are available upon request. LED indicators are provided to instantly monitor the system operating status.
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Plug and Play design ensures adjustment-free installation and operation, and optical adjustments are never required. A typical installation utilizes a transmitter unit at the camera end of the link, connected via a single fiber optic cable, to a receiverunit at the monitoring end of the link. Devices are available for either standalone or rackmount installation. Please give us a call (1-800-537-2296) or open a chat with any questions. We would be delighted to speak with you. | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Thứ Ba, 2 tháng 9, 2014
Cách phân biệt converter quang singlemode và converter quang multimode
Nguồn: http://tltelecom.com.vn
Kiến thức về mạng cáp quang
Nguồn: http://www.cap-quang.vn
1.Bộ chuyển đổi quang điện là gì?
Thiết bị chuyển từ tín hiệu dạng điện sang tín hiệu dạng quang - ánh sáng, và ngược lại.
Có rất nhiều các loại bộ chuyển đổi quang điện thường thì nó gắn với các chuẩn điện mà nó chuyển đổi sang, ví dụ như: Ethernet, Composite Video, E1, chuẩn nối tiếp (RS232, RS485, IEA 422), SDI video, SD video, HD video, VGA video, DVI video, FXS, FXO, V35, V11, mono Audio, Audio...
Trong công nghiệp có rất nhiều chuẩn tín hiệu điện, tuy nhiên, các bạn thường gặp cụm từ: converter quang, hay bộ chuyển đổi quang điện chứ không nói đến chuẩn điện đề cập trong rất nhiều phương tiện truyền thông, ở đây người sử dụng muốn nói đến: Bộ chuyển đổi Ethernet sang quang, bộ chuyển đổi của chuẩn Ethernet, một chuẩn được đánh giá là thành công và thông dụng nhất hiện nay. Và trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi cũng chỉ đề cập tới sản phẩm này: Bộ chuyển đổi Ethernet sang quang
2.Vì sao cần bộ chuyển đổi quang điện? Khi nào thì cần?
Các chuẩn điện chạy trên nền cáp đồng, thường có nhược điểm sau:
Tốc độ thấp, khoảng cách truyền ngắn và tốc độ luôn tỉ lệ nghịch với khoảng cách truyền, thường với tốc độ đạt 100M bit trên giây thì khoảng cách truyền không vượt quá 100m
Nhu cầu thực tế của con người, với các ứng dụng chạy trên PC, video conference, truyền files, truyền hình ảnh, các ứng dụng chạy trên cơ sở dữ liệu thường yêu cầu băng thông lớn hàng trăm Mbps
Vậy khi bạn ở trong tình huống sau, nên dùng cáp quang cho truyền thông - đồng nghĩa phải sử dụng Bộ chuyển đổi quang điện.
Bộ chuyển đổi Singlemode là gì? Multimode là gì? Khi nào thì dùng Converter singlemode, khi nào dùng converter Multimode?
Có hai loại cáp quang chính là: Singlemode và Multimode và cũng có 2 dòng bộ chuyển đổi quang điện tương ứng dùng cho 2 loại này. Tuy nhiên hiện nay, trong ứng dụng mạng LAN cáp quang, rất nhiều doanh nghiệp dùng lộn xộn cả hai loại này.
Nên hiểu một điều là cả Singlemode hay Multimode đều có ưu điểm và tính năng riêng, mỗi chuẩn này được thiết kế để chạy cho một vùng yêu cầu của thực tế, tức Singlemode hay Multimode tồn tại là do thực tế yêu cầu, nó tồn tại có lý do của nó, không nên hiểu là Singlemode tốt hơn Multimode hay Multimode tốt hơn Singlemode, rất nhiều nhân viên IT hẳn hoi dính vào so sánh khập khiễng này.
Dùng cáp và bộ chuyển đổi Multimode :i khoảng cách truyền của bạn dưới 2 km,
--------------------------------------Singlemode: khi khoảng cách truyền của bạn từ 10 km trở lên?
Vậy, 2km - 10km thì dùng cái gì, nên dùng multimode cho ứng dụng 2-5 km,
5-10km nên dùng Singlemode,
Bạn có thể dùng singlemode cho ứng dụng 2-5km, và multimode cho ứng dung 5-10 km, tuy nhiên sử dụng như thế nào phụ thuộc rất nhiều vào bản thân bộ chuyển đổi bạn đang dùng.
Bộ chuyển đổi quang điện có 2 thông số rất quan trọng là công suất phát và độ nhạy, nếu trong phạm vi ngắn mà bạn sử dụng Singlemode thì công suất phát vượt vùng độ nhạy dẫn tới tín hiệu không nhận được và ngược lại đối với khi sử dụng Multimode.
Có rất nhiều nhà cung cấp đã tư vấn cho khách hàng của mình sử dụng cáp singlemode, và hệ thống vẫn hoạt động bình thường, bạn đừng cho trường hợp này là tốt bởi bộ chuyển đổi đang hoạt động ngoài vùng hoạt động thiết kế định mức, dẫn tới hậu quả không tốt về sau hay hệ thống hoạt động không ổn định.
Chọn bộ chuyển đổi nào đây? sản phẩm G7?
Bộ chuyển đổi quang điện là sản phẩm công nghệ thấp nên bạn không nên quá quan tâm và băn khoăn liệu sản phẩm bạn mua có dùng cho doanh nghiệp mình được không. Đối với sản phẩm mạng thì có thể hiểu converter quang như một chiếc điện thoại bàn, nhà sản xuất sản xuất hàng ngàn chiếc, hỏng vứt nó đi, mua cái mới, chất lượng của chúng khá đồng đều, xác xuất lỗi rất thấp cỡ 0.3 phần 1000, với sản phẩm thông dụng này không nhất thiết phải sử dụng sản phẩm từ G7
Tuy nhiên bạn cũng nên lưu ý một số điểm khi chọn bộ chuyển đổi quang điện như sau:
3.Converter quang có mấy loại? chọn bộ chuyển đổi nào? Hãng nào, mấy hãng? hãng nào tin cậy
Hiện nay, bộ chuyển đổi quang điện - converter quang, cách gọi khác của Ethernet media converter, có 2 loại chính sau đây:
Chọn loại nào đây trong các ứng dụng trên? đây không phải là câu trả lời dễ, để trả lời chúng ta xuất phát từ ứng dụng và nhu cầu của bạn:
Trên đây là một số gợi ý của chúng tôi, chúc các bạn có sự lựa chọn hoàn hào cho ứng dụng của mình.
Bạn cần thêm thông tin về bộ chuyển đổi hãy liên hệ với chúng tôi.
|
Nhãn:
cable mạng
,
cáp quang
,
Thiết bị quang học
,
thiết bị mạng
Thứ Bảy, 30 tháng 8, 2014
Thứ Sáu, 29 tháng 8, 2014
Phân biệt các loại cáp mạng
Phân biệt các loại cáp mạng giúp khách hàng dễ dàng ra quyết định sử dụng loại cáp nào là hợp lý và chọn mua cáp đúng chuẩn.
1. Cáp xoắn đôi
Năm 1881 Alexander Graham Bell (người phát minh ra máy điện thoại năm 1876) là người đầu tiên đưa cáp xoắn đôi vào sử dụng trong dịch vụ điện thoại.Và đến năm 1900,loại cáp này đã được sử dụng phổ biến,rộng rãi trên toàn nước Mĩ.
Hiện nay cáp xoắn đôi còn được sử dụng rộng rãi trong việc truyền tải thông tin qua mạng internet trên toàn thế giới chứ không chỉ đơn thuần sử dụng truyền tải âm thanh qua điện thoại.
Cáp xoắn đôi (twisted pair cable) được tạo thành từ 4 - 25 đôi dây đồng. Trong đó mỗi đôi dây được xoắn với nhau nhằm mục đích hạn chế nhiễu giữa các đôi dây lân cận (crosstalk).
Cáp xoắn đôi được chia thành nhiều loại nhưng chủ yếu được chia làm 2 loại chính là chống nhiễu và không chống nhiễu (STP và UTP)
2. Cáp xoắn đôi không chống nhiễu – UTP ( Unshielded Twisted Pair)
Là loại cáp trong đó hai dây dẫn xoắn với nhau tạo thành một đôi và không có lớp vỏ bọc chống nhiễu. Loại cáp 4 đôi sử dụng phổ biến trong hệ thống mạng Ethernet. Ngoài ra còn có loại cáp 25 đôi thường được sử dụng trong hệ thống thoại được kí hiệu theo một tiêu chuẩn mã màu.
3. Cáp xoắn đôi chống nhiễu - STP ( Shielded Twisted Pair)
Là loại cáp trong đó hai dây dẫn xoắn với nhau tạo thành một đôi và có lớp vỏ bọc chống nhiễu tùy theo từng loại. Loại cáp 4 đôi sử dụng phổ biến trong hệ thống mạng Ethernet.
Trong dòng cáp xoắn đôi chống nhiễu – STP được chia ra làm hai dòng đó là FTP và SFTP.
- FTP (Foiled Twisted Pair)
Là dòng cáp xoắn đôi chống nhiễu thông thường. Cáp được cấu tạo gồm 4 cặp dây xoắn đôi để truyền tín hiệu. Bọc bên ngoài 4 cặp dây này là lớp lá nhôm có tác dụng chống nhiễu điện từ (EMI). Ngoài cùng là lớp vỏ bọc bằng nhựa.
Chuẩn cáp FTP có khả năng chống nhiễu tốt hơn dòng UTP vì được trang bị thêm lớp nhôm chống nhiễu. Tuy nhiên trong quá trình sử dụng, chuẩn cáp này vẫn có thể bị nhiễu tín hiệu vì chưa giảm nhiễu triệt để. Chính vì vậy mà người ta đã thêm một số chi tiết để nâng cao khả năng chống nhiễu cho FTP, đó chính là chuẩn cáp xoắn đôi SFTP.
- SFTP (Shielded Foiled Twisted Pair)
Là dòng cáp xoắn đôi chống nhiễu cải tiến. Cáp được cấu tạo gồm 4 cặp dây xoắn đôi để truyền tín hiệu. Bọc bên ngoài 4 cặp dây này là 1 lớp lá nhôm và 1 lớp lưới nhôm có tác dụng chống nhiễu điện từ (EMI) ngoài ra cáp còn được trang bị thêm một sợi dây đồng để tiếp mát (giúp nâng cao khả năng chống nhiễu). Ngoài cùng là lớp vỏ bọc bằng nhựa.
Hiện nay trên thị trường, người tiêu dùng rất khó để phân biệt giữa FTP và SFTP vì cấu tạo khá giống nhau của hai chuẩn cáp này. Chính vì thế khi mua cáp SFTP quý khách hàng cần chú ý kiểm tra cấu tạo bên trong của cáp xem có đúng chuẩn SFTP hay không trước khi mua hàng. Để đảm bảo sản phẩm đúng chuẩn cáp hay không quý khách hàng cần lưu ý những điểm sau:
| Chuẩn SFTP CAT5E | Chuẩn SFTP CAT6 | |
Bốn cặp dây xoắn đôi
|
Có
|
Có
|
Lõi chữ thập giảm nhiễu chéo
|
Không
|
Có
|
Lớp nilon bọc chống ẩm
|
Không
|
Có
|
Lớp lá nhôm bọc ngoài
|
Có
|
Có
|
Lớp lưới nhôm bọc ngoài
|
Có
|
Có
|
Sợi dây đồng tiếp mát
|
Có
|
Có
|
Dây dù trợ lực
|
Có
|
Có
|
Vỏ nhựa PVC bọc ngoài
|
Có
|
Có
|
CÁP MẠNG - TÌM HIỂU VÀ PHÂN BIỆT CÁC LOẠI DÂY MẠNG
Trong thiết kế và thi công mạng, ngoài những kỹ thuật viên có nhiều kinh nghiệm, thì người dùng bình thường sẽ không ít bỡ ngỡ khi nghe đến các loại cáp mạng (network cable) như CAT 5, CAT 5E, CAT 6, CAT 6A..
Bài viết này sẽ giúp các bạn tìm hiểu kỹ hơn về các loại cáp này, giúp bạn phân biệt từng loại cáp và lựa chọn loại cáp phù hợp, khi có nhu cầu thay thế cáp hoặc thi công mạng máy tính của mình.
Hiện tại trên thị trường có 4 loại cáp mạng là: CAT 5, CAT 5E, CAT 6 và CAT 6A. Về cơ bản, các loại cáp này đều có đặc điểm chung là bao gồm 8 sợi cáp nhỏ chia thành 4 cặp dây xoắn đôi với nhau theo màu quy ước như sau:
- Cặp vàng: Bao gồm dây vàng và dây trắng vàng (hoặc cam và trắng cam).
- Cặp xanh lá: Bao gồm dây xanh lá và dây trắng xanh lá.
- Cặp xanh dương: Bao gồm dây xanh dương và dây trắng xanh dương.
- Cặp nâu: Bao gồm dây nâu và trắng nâu
1. Chuẩn cáp mạng CAT 5:
Cáp mạng CAT 5 (Category 5) là loại cáp phổ biến nhất , rẻ nhất, có thể có hoặc không có lớp giấy bọc kim loại chống nhiễu (còn gọi là lớp giáp) bao quanh các cặp dây trước khi đến lớp vỏ nhựa bên ngoài. Cáp có lớp giáp gọi là cáp FTP - cáp không có gọi là cáp UTP.
Lõi của các dây xoắn bên trong có thể là lõi đặc hoặc lõi bện. Lõi đặc giúp truyền tín hiệu xa hơn, ổn định hơn, trong khi lõi bện thường dùng làm dây nối giữa các thiết bị (dây patch cord). Tốc độ truyền dữ liệu của CAT 5 tối đa là 100 Mbps (Megabit/giây)
2. Chuẩn cáp mạng CAT 5E:
Cáp CAT 5E (Category 5 enhanced) về cơ bản giống như cáp CAT 5 nhưng được sản xuất theo tiêu chuẩn và thông số kỹ thuật khắt khe hơn CAT 5. Đáp ứng được những nhu cầu cao hơn CAT 5.
Cáp CAT 5E (Category 5 enhanced) về cơ bản giống như cáp CAT 5 nhưng được sản xuất theo tiêu chuẩn và thông số kỹ thuật khắt khe hơn CAT 5. Đáp ứng được những nhu cầu cao hơn CAT 5.
Những năm gần đây, hầu hết những công trình mới người ta thường chọn CAT 5E vì thực tế giá cả của CAT 5E và CAT 5 cũng không chênh lệch là bao. Bên cạnh đó loại cáp này còn cho phép truyền dữ liệu lên tới tốc độ Gigabit: 1000 Mbps và nhờ có độ xoắn của các cặp dây cao hơn, CAT 5E cho phép giảm nhiễu trong quá trình truyền tín hiệu.
3. Chuẩn cáp mạng CAT 6:
Nhờ có lõi nhựa chữ thập (Cross Filter) tách biệt hoàn toàn 4 cặp dây xoắn, CAT 6 cho phép tín hiệu truyền ổn định hơn, vượt xa khả năng của cáp CAT 5 và CAT 5E. Băng thông và tốc độ truyền dữ liệu của cáp CAT 6 có thể lên đến 10 Gigabit / giây. Đáp ứng những nhu cầu cần truyền tải một lượng lớn dữ liệu qua mạng trong thời gian ngắn.
3. Chuẩn cáp mạng CAT 6:
Nhờ có lõi nhựa chữ thập (Cross Filter) tách biệt hoàn toàn 4 cặp dây xoắn, CAT 6 cho phép tín hiệu truyền ổn định hơn, vượt xa khả năng của cáp CAT 5 và CAT 5E. Băng thông và tốc độ truyền dữ liệu của cáp CAT 6 có thể lên đến 10 Gigabit / giây. Đáp ứng những nhu cầu cần truyền tải một lượng lớn dữ liệu qua mạng trong thời gian ngắn.
4 Chuẩn cáp mạng CAT 6A:
Giá thành khá đắt đỏ, tuy nhiên cáp CAT 6A cho phép truyền dữ liệu ổn định và xa hơn các loại cáp bên trên. Cấu trúc chữ thập và các vỏ nhựa được gia cố dày hơn. CAT 6A cũng thường được trang bị lớp vỏ giáp, những yếu tố này giúp cho CAT 6A giảm nhiễu tối đa, chịu đựng điều kiện môi trường tốt hơn, độ dài cáp có thể lên đến 100m mà tín hiệu không suy giảm. Tốc độ vẫn đáp ứng ở mức 10 Gigabit / giây.
Giá thành khá đắt đỏ, tuy nhiên cáp CAT 6A cho phép truyền dữ liệu ổn định và xa hơn các loại cáp bên trên. Cấu trúc chữ thập và các vỏ nhựa được gia cố dày hơn. CAT 6A cũng thường được trang bị lớp vỏ giáp, những yếu tố này giúp cho CAT 6A giảm nhiễu tối đa, chịu đựng điều kiện môi trường tốt hơn, độ dài cáp có thể lên đến 100m mà tín hiệu không suy giảm. Tốc độ vẫn đáp ứng ở mức 10 Gigabit / giây.
Hiện nay Cat. 6A chưa được sử dụng phổ biến do vấn đề chi phí khá cao. Chi phí đầu tư cho một hệ thống Cat. 6A có thể nhiều gấp đôi so với Cat. 6, bên cạnh đó việc đầu tư cho các thiết bị mạng hoạt động ở tốc độ 10 Gbps cũng tốn rất tốn kém. Do vậy, Cat. 6 và Cat. 5e vẫn được lựa chọn vì đáp ứng được hầu hết các ứng dụng mạng cơ bản hiện nay.
Tuy nhiên, việc sử dụng Cat. 6A tại thời điểm hiện nay được cho là sáng suốt vì theo thống kê của các nhà sản xuất cáp cứ 18 tháng thì yêu cầu về tốc độ truyền dữ liệu sẽ tăng gấp đôi. Khi đó, bạn không phải tốn chi phí để thay toàn bộ hệ thống cáp đã được lắp đặt và đầu tư lại từ đầu.
Chuẩn video: PAL và NTSC
Hệ thống truyền hình tương tự và video được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới nhưng các quốc gia khác nhau lại sử dụng các tiêu chuẩn video khác nhau. Phổ biến nhất đó là NTSC (National Television System Committee) và PAL (Phase Alternating Line).
Mặc dù rất phổ biến nhưng hai thuật ngữ Pal và NTSC hầu hết trong chúng ta không thể phân biệt được rõ ràng bản chất giữa NTSC và PAL. Bởi đại đa số chúng ta không phải là những người làm chuyên môn trong lĩnh vực hình ảnh, video.
NTSC là tiêu chuẩn video tương tự được sử dụng ở Bắc Mỹ và hầu hết Nam Mỹ. Ở tiêu chuẩn NTSC có 30 khung hình ảnh được truyền đi trong mỗi giây. Mỗi khung hình được tạo bởi 525 dòng quét đơn.
PAL cũng là tiêu chuẩn video tương tự, nhưng so với NTSC số dòng quét cao hơn, lên tới 625 dòng đơn cho mỗi khung hình. Nhưng số khung truyền đi trong mỗi giây là 25 khung.
Sự khác biệt giữa PAL và NTSC bắt đầu sâu xa từ hệ thống năng lượng mà thế giới đang sử dụng. Ở Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, và một số quốc gia ở Châu Mỹ sử dụng hệ thống điện có tần số 60Hz, vì lý do về kỹ thuật xử lý thông tin số dải truyền đi phụ thuộc vào tần số của dòng điện. Vì vậy tín hiệu được xử lý và truyền đi thành 60 dải trong một giây (thông thường còn gọi là tần số quét ngang 60Hz). Chúng ta biết hầu hết các công nghệ truyền hình hay video đều sử dụng công nghệ Interlace Scan (công nghệ quét dòng xen kẽ) để tạo nên một hình ảnh hoàn thiện.
Do tốc độ quét quá nhanh nên 2 dải quét này người ta coi nó tạo thành một khung hình. Vì vậy với 60 dải được truyền đi trong giây tạo thành 30 khung hình trong một giây. Đó cũng chính là nguyên do tạo nên 30 khung/s cho chuẩn NTSC.
Còn hệ PAL thì sao? chúng ta biết ở các nước Châu Âu, một số nước Châu Á trong đó có Việt Nam chúng ta sử dụng hệ thống điện có tần số là 50Hz, bằng cách giải thích tương tự như trên hệ PAL sẽ có số khung truyền đi trong một giây là 25 khung/s.
Thử so sánh hai hệ về chất lượng hình ảnh: Rõ ràng với 625 dòng quét và 525 dòng quét hệ PAL cho chúng ta hình ảnh sắc nét hơn hẳn hệ NTSC. Nhưng với 30 khung/s so với 25 khung/s thì hệ NTSC cho chúng ta hình ảnh mượt hơn rất nhiều.
Một điều chúng ta nên chú ý là khi chuyển hình ảnh từ NTSC sang PAL hình ảnh sẽ bị mờ hơn so với khi xem nguyên bản. Bởi kích thước khung ảnh phóng lên sẽ bị giãn ra, do vậy chất lượng sẽ kém hơn. Còn chuyển từ PAl sang NTSC có thể gây ra hình ảnh bị giật, do số khung/s của PAL ít hơn NTSC.
Ngoài tần số quét ngang còn có tần số quét dọc, chính vì vậy tạo nên kích thước khung hình của hai hệ này cũng khác nhau, vì vậy khi xem chúng ta vẫn thường thấy một số hiện tượng co hình (không full màn hình) ở một số bộ phim hay một số kênh truyền hình.
Đến đây chúng ta đã phần nào hiểu tại sao ở Việt Nam bạn nhất thiết phải dùng hệ PAL mà không phải là NTSC rồi phải không. Không phải nguyên do thiết bị của chúng ta quyết định mà là do lưới điện của chúng ta.
Trong truyền hình màu, hình ảnh được phát đi bằng tín hiệu được mã hoá theo màu sắc. Máy thu hình màu thu được tín hiệu, giải mã tạo lại ba màu cơ bản R, B, G bằng tia điện tử, tổng hợp thành màu gốc của hình ảnh truyền đi.
Hiện nay, trên thế giới có ba hệ thống truyền hình màu; về nguyên lí, phân tích và tổng hợp là giống nhau, nhưng khác nhau về phương thức mã hoá và giải mã.
Đó là: NTSC (National Television System Comittee), được sử dụng rộng rãi ở các nước Hoa Kì, Nhật Bản, Canađa và một số nước Mĩ Latinh. PAL (Phase Alternation Line), được sử dụng rộng rãi ở các nước Tây Âu. SECAM (Sequentiel couleur à mémoire), được sử dụng rộng rãi ở các nước Đông Âu và nhiều nước khác trên thế giới.
Ở Việt Nam, hệ thống truyền hình màu được dùng trước đây là hệ SECAM, nay đang dùng hệ PAL.
Đăng ký:
Bài đăng
(
Atom
)
