Hiển thị các bài đăng có nhãn cáp quang. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn cáp quang. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 4 tháng 9, 2014

Video: Hàn cáp quang

Hộp nối quang âm tường 2 FO

Nguồn: http://www.postef.com.vn/
Ký hiệu: HAT - 02
- Hộp nối quang HAT - 02 nhỏ gọn, gắn trên tường cùng với đế âm tường, hoặc đế nổi thông dụng.
- Đấu nối Adapter.
- Dung lượng tối đa: 02 FO
- Kích thước: 114 x 73 x 15 (mm)
- Đầu nối với ống co nhiệt bảo vệ mối hàn, hoặc Ref quang cơ khí.


1. Vít bắt thân hộp
2. Adapter
3. Ref quang
4. Ống co nhiệt bảo vệ mối hàn.

Hướng dẫn thao tác đấu nối:


- Cắt, tuốt cáp vào
- Thao tác hàn nối sợi quang (cũng có thể dùng Ref quang cơ khí)
- Luồn, cuốn dây quang dự phòng
- Gài kết nối Adapter SC.


- Tiến hành bắt hộp lên đế âm tường: có thể dùng đế âm tường hoặc đế nổi.
- Tọa độ lỗ bắt hộp hoàn toàn phù hợp với các loại đế nổi, đế âm thông dụng trên thị trường.

Thứ Ba, 2 tháng 9, 2014

Kiến thức về mạng cáp quang

1.Bộ chuyển đổi quang điện là gì?
   Thiết bị chuyển từ tín hiệu dạng điện sang tín hiệu dạng quang - ánh sáng, và ngược lại.
  Có rất nhiều các loại bộ chuyển đổi quang điện thường thì nó gắn với các chuẩn điện mà nó chuyển đổi sang, ví dụ như: Ethernet, Composite Video, E1, chuẩn nối tiếp (RS232, RS485, IEA 422), SDI video, SD video, HD video, VGA video, DVI video, FXS, FXO, V35, V11, mono Audio, Audio...
  Trong công nghiệp có rất nhiều chuẩn tín hiệu điện, tuy nhiên, các bạn thường gặp cụm từ: converter quang, hay bộ chuyển đổi quang điện chứ không nói đến chuẩn điện đề cập trong rất nhiều phương tiện truyền thông, ở đây người sử dụng muốn nói đến: Bộ chuyển đổi Ethernet sang quang, bộ chuyển đổi của chuẩn Ethernet, một chuẩn được đánh giá là thành công và thông dụng nhất hiện nay. Và trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi cũng chỉ đề cập tới sản phẩm này: Bộ chuyển đổi Ethernet sang quang
2.Vì sao cần bộ chuyển đổi quang điện? Khi nào thì cần?
 Các chuẩn điện chạy trên nền cáp đồng, thường có nhược điểm sau: 
Tốc độ thấp, khoảng cách truyền ngắn và tốc độ luôn tỉ lệ nghịch với khoảng cách truyền, thường với tốc độ đạt 100M bit trên giây thì khoảng cách truyền không vượt quá 100m
 Nhu cầu thực tế của con người, với các ứng dụng chạy trên PC, video conference, truyền files, truyền hình ảnh, các ứng dụng chạy trên cơ sở dữ liệu thường yêu cầu băng thông lớn hàng trăm Mbps
 Vậy khi bạn ở trong tình huống sau, nên dùng cáp quang cho truyền thông - đồng nghĩa phải sử dụng Bộ chuyển đổi quang điện.
  • Kết nối mạng LAN trong nhà máy phạm vi kết nối lớn hơn 100m
  • Truyền tín hiệu video trong diện rộng: như hệ thống camera giao thông, hệ hội nghị truyền hình, công nghiệp truyền hình...
  • Truyên đa ứng dụng: Video + Data + Audio trên khoảng cách lớn.
Bộ chuyển đổi Singlemode là gì? Multimode là gì? Khi nào thì dùng Converter singlemode, khi nào dùng converter Multimode?
   Có hai loại cáp quang chính là: Singlemode và Multimode và cũng có 2 dòng bộ chuyển đổi quang điện tương ứng dùng cho 2 loại này. Tuy nhiên hiện nay, trong ứng dụng mạng LAN cáp quang, rất nhiều doanh nghiệp dùng lộn xộn cả hai loại này.
   Nên hiểu một điều là cả Singlemode hay Multimode đều có ưu điểm và tính năng riêng, mỗi chuẩn này được thiết kế để chạy cho một vùng yêu cầu của thực tếtức Singlemode hay Multimode tồn tại là do thực tế yêu cầu, nó tồn tại có lý do của nó, không nên hiểu là Singlemode tốt hơn Multimode hay Multimode tốt hơn Singlemode, rất nhiều nhân viên IT hẳn hoi dính vào so sánh khập khiễng này.
  Dùng cáp và bộ chuyển đổi Multimode :i khoảng cách truyền của bạn dưới 2 km,
 --------------------------------------Singlemode: khi khoảng cách truyền của bạn từ 10 km trở lên? 
Vậy, 2km - 10km thì dùng cái gì, nên dùng multimode cho ứng dụng 2-5 km
5-10km nên dùng Singlemode,
 Bạn có thể dùng singlemode cho ứng dụng 2-5km, và multimode cho ứng dung 5-10 km, tuy nhiên sử dụng như thế nào phụ thuộc rất nhiều vào bản thân bộ chuyển đổi bạn đang dùng.
 Bộ chuyển đổi quang điện có 2 thông số rất quan trọng là công suất phát và độ nhạy, nếu trong phạm vi ngắn mà bạn sử dụng Singlemode thì công suất phát vượt vùng độ nhạy dẫn tới tín hiệu không nhận được và ngược lại đối với khi sử dụng Multimode.
 Có rất nhiều nhà cung cấp đã tư vấn cho khách hàng của mình sử dụng cáp singlemode, và hệ thống vẫn hoạt động bình thường, bạn đừng cho trường hợp này là tốt bởi bộ chuyển đổi đang hoạt động ngoài vùng hoạt động thiết kế định mức, dẫn tới hậu quả không tốt về sau hay hệ thống hoạt động không ổn định.
Chọn bộ chuyển đổi nào đây? sản phẩm G7?
    Bộ chuyển đổi quang điện là sản phẩm công nghệ thấp nên bạn không nên quá quan tâm và băn khoăn liệu sản phẩm bạn mua có dùng cho doanh nghiệp mình được không. Đối với sản phẩm mạng thì có thể hiểu converter quang như một chiếc điện thoại bàn, nhà sản xuất sản xuất hàng ngàn chiếc, hỏng vứt nó đi, mua cái mới, chất lượng của chúng khá đồng đều, xác xuất lỗi rất thấp cỡ 0.3 phần 1000, với sản phẩm thông dụng này không nhất thiết phải sử dụng sản phẩm từ G7
Tuy nhiên bạn cũng nên lưu ý một số điểm khi chọn bộ chuyển đổi quang điện như sau:
  • Chọn sản phẩm từ nhà cung cấp chuyên về mạng cáp quang. bởi họ có số lượng lớn và chất lượng dịch vụ tốt
  • Địa chỉ nhà cung cấp rõ ràng, là đơn vị chuyên cung cấp sản phẩm này trong ít nhất 2 năm.
3.Converter quang có mấy loại? chọn bộ chuyển đổi nào? Hãng nào, mấy hãng? hãng nào tin cậy
    Hiện nay, bộ chuyển đổi quang điện - converter quang, cách gọi khác của Ethernet media converter, có 2 loại chính sau đây:
  • Industrial Ethernet Media Converter - Bộ chuyển đổi Ethernet/quang công nghiệp: các thương hiệu tiêu biểu cho loại này là: Hirschmann - Đức, Moxa - Đài Loan, Rugged Com - Canada, Sixnetio - Mỹ, Advantech - Đài Loan, Korenix - Đài Loan, Westernmo - Anh.
  • Commercial Ethernet Media Converter - Bộ chuyển đổi Ethernet/quang ứng dụng thương mại: Các thương hiệu tiêu biểu cho ứng dụng này là: HNT - Việt nam, IMC - Mỹ, D-LINK, TP-LINK, AMP, MICRONET, NETLINK, 3ONEDATA... 
   Chọn loại nào đây trong các ứng dụng trên? đây không phải là câu trả lời dễ, để trả lời chúng ta xuất phát từ ứng dụng và nhu cầu của bạn:
  • Ứng dụng cho media converter bạn yêu cầu là gì?
  • Bạn có thể đầu tư bao nhiêu?
  • Môi trường đặt bộ chuyển đổi?
  • Mức độ tin cậy bạn cần ở bộ chuyển đổi quang điện
Trên đây là một số gợi ý của chúng tôi, chúc các bạn có sự lựa chọn hoàn hào cho ứng dụng của mình.
Bạn cần thêm thông tin về bộ chuyển đổi hãy liên hệ với chúng tôi.

Thứ Tư, 27 tháng 8, 2014

Cáp quang

Nguồn: http://genk.vn/
Ngày nay, Internet  đòi hỏi tốc độ, băng thông kết nối Internet cao và cáp quang trở thành lựa chọn số một 
+Cáp quang dùng ánh sáng truyền dẫn tín hiệu=> ít suy hao => khoảng cách xa. 
+Cáp đồng sử dụng dòng điện để truyền tín hiệu=> dễ bị suy hao => khoảng cáchi ngắn hơn.
Sợi cáp quang gồm ba thành phần chính: 
+Lõi (core): làm bằng sợi thủy tinh hoặc plastic dùng truyền dẫn ánh sáng.

+Lớp phản xạ ánh sáng (cladding) :  lớp thủy tinh hay plastic – nhằm bảo vệ và phản xạ ánh sáng trở lại core.

+Lớp vỏ bảo vệ chính (primary coating hay còn gọi coating, primary buffer): lớp vỏ nhựa PVC giúp bảo vệ core và cladding không bị bụi, ẩm, trầy xước. 


Hai loại phổ biến: 
+GOF (Glass Optical Fiber) – cáp quang làm bằng thủy tinh 
+POF (Plastic Optical Fiber) – cáp quang làm bằng plastic.

 POF có đường kính core khá lớn khoảng 1mm, sử dụng cho truyền dẫn tín hiệu khoảng cách ngắn, mạng tốc độ thấp. Trên các tài liệu kỹ thuật, bạn thường thấy cáp quang GOF ghi các thông số 9/125µm, 50/125µm hay 62,5/125µm, đây là đường kính của core/cladding; còn primary coating có đường kính mặc định là 250µm.
Hình 1
Bảo vệ sợi cáp quang là lớp vỏ ngoài gồm nhiều lớp khác nhau tùy theo cấu tạo, tính chất của mỗi loại cáp. Nhưng có ba lớp bảo vệ chính là lớp chịu lực kéo (strength member), lớp vỏ bảo vệ ngoài (buffer) và lớp áo giáp (jacket) – tùy theo tài liệu sẽ có tên gọi khác nhau. Strength member là lớp chịu nhiệt, chịu kéo căng, thường làm từ các sợi Kevlar. Buffer thường làm bằng nhựa PVC, bảo vệ tránh va đập, ẩm ướt. Lớp bảo vệ ngoài cùng là Jacket. Mỗi loại cáp, tùy theo yêu cầu sử dụng sẽ có thêm các lớp jacket khác nhau. Jacket có khả năng chịu va đập, nhiệt và chịu mài mòn, bảo vệ phần bên trong tránh ẩm ướt và các ảnh hưởng từ môi trường.
Có hai cách thiết kế khác nhau để bảo vệ sợi cáp quang là ống đệm không chặt (loose-tube) và ống đệm chặt (tight buffer).
Loose-tube thường dùng ngoài trời (outdoor), cho phép chứa nhiều sợi quang bên trong. Loose-tube giúp sợi cáp quang “giãn nở” trước sự thay đổi nhiệt độ, co giãn tự nhiên, không bị căng, bẻ gập ở những chỗ cong. Hình 2
Hình 2
Tight-buffer thường dùng trong nhà (indoor), bao bọc khít sợi cáp quang (như cáp điện), giúp dễ lắp đặt khi thi công. Hình 3
Hình 3
Trên một số tài liệu, bạn sẽ gặp hai thuật ngữ viết tắt IFC, OSP. IFC (Intrafacility fiber cable) là loại cáp dùng trong nhà, có ít lớp bảo vệ vật lý và việc thi công lắp đặt linh hoạt. OSP (Outside plant cable) là loại cáp dùng ngoài trời, chịu được những điều kiện khắc nghiệt của nhiệt độ, độ ẩm, bụi… loại cáp này có nhiều lớp bảo vệ.
Hình 4
Các tia sáng bên trong cáp quang có hai kiểu truyền dẫnđơn mốt (Singlemode) và đa mốt (Multimode).

Cáp quang Singlemode (SM) có đường kính core khá nhỏ (khoảng 9µm), sử dụng nguồn phát laser truyền tia sáng xuyên suốt vì vậy tín hiệu ít bị suy hao và có tốc độ khá lớn. SM thường hoạt động ở 2 bước sóng (wavelength) 1310nm, 1550nm. 

Cáp quang Multimode (MM) có đường kính core lớn hơn SM (khoảng 50µm, 62.5µm). MM sử dụng nguồn sáng LED (Light Emitting Diode) hoặc laser để truyền tia sáng và thường hoạt động 2 bước sóng 850nm, 1300nm; MM có khoảng cách kết nối và tốc độ truyền dẫn nhỏ hơn SM.


Hình 5
MM có hai kiểu truyền: chiết xuất bước (Step index) và chiết xuất liên tục (Graded index). Các tia sáng kiểu Step index truyền theo nhiều hướng khác nhau vì vậy có mức suy hao cao và tốc độ khá chậm. Step index ít phổ biến, thường dùng cho cáp quang POF. Các tia sáng kiểu Graded index truyền dẫn theo đường cong và hội tụ tại một điểm. Do đó Graded index ít suy hao và có tốc độ truyền dẫn cao hơn Step index. Graded index được sử dụng khá phổ biến.
Truyền dẫn tín hiệu trên cáp quang có hai dạng đơn công (simplex) và song công (duplex). Simplex truyền tín hiệu chỉ 1 chiều. Duplex có thể truyền nhận tín hiệu 1 chiều bán song công (half-Duplex) hoặc cả 2 chiều song công toàn phần (full-Duplex) Duplex ở cùng thời điểm tùy theo cách cấu hình.
Hình 6
Để đấu nối cáp quang vào bảng đấu dây (patch panel) hoặc vào các cổng vào/ra (input/output) trên các thiết bị truyền nhận quang, người ta thường sử dụng dây nối quang một đầu có sẵn đầu nối (pigtail) hoặc cả hai đầu có sẵn đầu nối (pathcord).
Hình 7
Hình 8
Một số loại cáp quang:
Ribbon: cáp quang dạng ruy-băng, chứa nhiều sợi quang bên trong.Hình 9
Zipcord: hai sợi quang có vỏ ngoài liền nhau (như dây điện). Hình 10
Hình 9
Hình 10
Bất kỳ giao tiếp quang nào cũng bao gồm 3 thành phần: 
nguồn phát, vật truyền dẫn trung gian (cáp quang) và nguồn thu.
Nguồn phát  : sẽ chuyển đổi tín hiệu điện tử -->ánh sáng và truyền dẫn qua cáp quang. 
Nguồn thu : chuyển đổi ánh sáng -> tín hiệu điện tử.

hai loại nguồn phát laser và LED
.Laser ít tán sắc, cho phép truyền dẫn dữ liệu tốc độ nhanh, khoảng cách xa (trên 20km), dùng được cho cả Singlemode và Multimode nhưng chi phí cao, khó sử dụng.

LEDt án sắc nhiều, truyền dẫn tốc độ chậm hơn, bù lại chi phí thấp, dễ sử dụng, thường dùng cho cáp quang Multimode. LED dùng cho hệ thống có khoảng cách ngắn hơn, có thể sử dụng cho cả sợi quang thủy tinh, sợi quang plastic.
Các thông số quang cần quan tâm
Suy hao quang (Optical loss): lượng công suất quang (optical power) mất trong suốt quá trình truyền dẫn qua cáp quang, điểm ghép nối. Ký hiệu dB.
Suy hao phản xạ (Optical Return loss): ánh sáng bị phản xạ tại các điểm ghép nối, đầu nối quang.

Suy hao tiếp xúc (Insertion loss):
 giảm công suất quang ở hai đầu ghép nối. Giá trị thông thường từ 0,2dB – 0,5dB.
Suy hao (Attenuation): mức suy giảm công suất quang trong suốt quá trình truyền dẫn trên một khoảng cách xác định. Ký hiệu dB/km. 

Ví dụ:
Cáp quang Multimode ở bước sóng 850nm suy giảm 3dB/km, trong khi ở bước sóng 1300 nm chỉ suy giảm 1dB/km.
Cáp quang Singlemode: suy giảm 0,4dB/km1310nm, 0,3dB/km ở 1550nm.
Đầu nối (connector) suy giảm 0,5dB/cặp đấu nối. Điểm ghép nối (splice) suy giảm 0,2 dB/điểm.
Bước sóng (Wavelength): là chu kỳ di chuyển của sóng điện từ.
Ký hiệu nm (nanometer).
  Ánh sáng chúng ta nhìn thấy được có wavelength từ 400nm đến 700nm (màu tím đến màu đỏ).
Cáp quang sử dụng ánh sáng nằm trong vùng hồng ngoại wavelength lớn hơn wavelength mà ta nhìn thấy – trong khoảng 850nm, 1300nm và 1550nm.
Các bước sóng truyền dẫn quang được xác định dựa trên hai yếu tố nhằm khắc phục tình trạng suy hao do năng lượng và vật liệu truyền dẫn: các bước sóng nằm trong vùng hồng ngoại và các bước sóng không nằm trong vùng hấp thu, cản trở năng lượng ánh sáng truyền dẫn (absorption) do tạp chất lẫn trong cáp quang từ quá trình sản xuất
Hình 11
Vậy vì sao chúng ta không sử dụng các bước sóng dài hơn?
Bước sóng hồng ngoại là sự chuyển tiếp giữa ánh sáng và nhiệt. Bước sóng dài hơn, nhiệt xung quang càng nóng hơn, tín hiệu nhiễu loạn nhiều hơn.
 Do đó, thường POF có bước sóng 650nm, 850nm.
GOF với Multimode hoạt động ở 850nm và 1300nm, Singlemode ở 1310nm, 1550nm. Giữa hai bước sóng 1300nm và 1310nm không khác biệt nhau, chỉ là cách qui ước để phân biệt sử dụng cáp quang Singlemode hay Multimode.
Đầu nối quang: gồm nhiều thành phần kết hợp lại với nhau, chúng có nhiều kiểu như SC/PC, ST/UPC, FC/APC… Nhưng có hai thành phần bạn cần quan tâm, đó là kiểu đầu nối SC, ST, FC…và điểm tiếp xúc PC, UPC, APC.
SC (subscriber connector), ST (straight tip), FC (fiber connector) là các kiểu đầu nối quang có dạng hình vuông, hình tròn…
Hình 12
Bên trong đầu nối là ferrule, giúp bảo vệ và giữ thẳng sợi cáp quang. Ferrule được làm bằng thủy tinh, kim loại, plastic hoặc gốm (ceramic) – trong đó chất liệu gốm là tốt nhất.
Hình 13
Đỉnh của ferrule được làm nhẵn (polish) với ba dạng điểm tiếp xúc chính PC (Physical Contact), UPC (Ultra Physical Contact) và APC (Angled Physical Contact), giúp đảm bảo chỗ ghép nối có ít ánh sáng bị mất hoặc bị phản xạ nhất.
Hình 14
Dạng PC được vạt cong, sử dụng với các kiểu đầu nối FC, SC, ST. PC, có giá trị suy hao phản xạ (optical return loss) là 40dB. Vì giá trị này khá cao, nên đã thúc đẩy các nhà sản xuất tiếp tục tìm kiếm các giải pháp tốt hơn.

 UPC là giải pháp tiếp theo, nó cũng được vạt cong như PC nhưng giảm return loss hơn. UPC có giá trị return loss 50dB. UPC dùng với các đầu nối FC, SC, ST, DIN, E2000. APC được vạt chéo 8 độ­­, loại bỏ hầu hết sự phản xạ ở điểm ghép nối và có giá trị return loss 60dB. Bạn nên lưu ý là khi đọc các thông số kỹ thuật quang đề cập mức suy hao có thể làm bạn dễ hiểu sai về dấu “+” và “-“. Chẳng hạn, với kết quả tính toán, đo đạc mức độ suy hao là -40dB. Trên thông số kỹ thuật có thể viết giá trị suy hao (loss values) là 40dB hoặc số đo mức phản xạ là -40dB hay độ lợi (gain) là -40dB. Tất cả đều như nhau, do đó bạn cần chú ý cách viết để tránh hiểu sai.
Hiện nay, giá thành cáp quang và các phụ kiện quang đã thấp hơn so với cách nay vài năm. Cùng với việc ứng dụng nhiều giải pháp như IP Camera, VoIP, Hội nghị truyền hình qua mạng, kết nối mạng gigabit giữa các tòa nhà, văn phòng, xưởng sản xuất; cáp quang dần trở thành lựa chọn số một cho việc triển khai hạ tầng mạng đòi hỏi nhiều băng thông và tốc độ cao.

Tìm hiểu cáp quang và câu chuyện đứt cáp biển tại Việt Nam


  • Cáp quang là một loại cáp viễn thông làm bằng thủy tinh hoặc nhựa, sử dụng ánh sáng để truyền tín hiệu. Cáp quang dài, mỏng thành phần của thủy tinh trong suốt bằng đường kính của một sợi tóc. Chúng được sắp xếp trong bó được gọi là cáp quang và được sử dụng để truyền tín hiệu trong khoảng cách rất xa. Không giống như cáp đồng truyền tín hiệu bằng điện, cáp quang ít bị nhiễu, tốc độ cao (đây là tốc độ truyền dữ liệu, phân biệt với tốc độ tín hiệu) và truyền xa hơn.
Cấu tạo cáp quang
Cáp quang có cấu tạo gồm dây dẫn trung tâm sợi thủy tinh hoặc plastic đã được tinh chế nhằm cho phép truyền đi tối đa các tín hiệu ánh sáng. Sợi quang được tráng một lớp lót nhằm phản chiếu tốt các tín hiệu ánh sáng và hạn chế sự gẫy gập của sợi cáp quang.
Tìm hiểu cáp quang và câu chuyện đứt cáp biển tại Việt Nam
 

Cáp quang gồm các phần sau:
Core: Trung tâm phản chiếu của sợi quang nơi ánh sáng đi
Cladding: Vật chất quang bên ngoài bao bọc lõi mà phản xạ ánh sáng trở lại vào lõi.
Buffer coating: Lớp phủ dẻo bên ngoài bảo vệ sợi không bị hỏng và ẩm ướt
Jacket: Hàng trăm hay hàng ngàn sợi quang được đặt trong bó gọi là Cáp quang. Những bó này được bảo vệ bởi lớp phủ bên ngoài của cáp được gọi là jacket.
Tìm hiểu cáp quang và câu chuyện đứt cáp biển tại Việt Nam
 

Hai loại cáp quang phổ biến là GOF (Glass Optical Fiber) – cáp quang làm bằng thuỷ tinh và POF (Plastic Optical Fiber) – cáp quang làm bằng plastic. 
POF có đường kính core khá lớn khoảng 1mm, sử dụng cho truyền dẫn tín hiệu khoảng cách ngắn, mạng tốc độ thấp. Trên các tài liệu kỹ thuật, bạn thường thấy cáp quang GOF ghi các thông số 9/125µm, 50/125µm hay 62,5/125µm, đây là đường kính của core/cladding; còn primary coating có đường kính mặc định là 250µm.
Bảo vệ sợi cáp quang là lớp vỏ ngoài gồm nhiều lớp khác nhau tùy theo cấu tạo, tính chất của mỗi loại cáp. Nhưng có ba lớp bảo vệ chínhlớp chịu lực kéo (strength member), lớp vỏ bảo vệ ngoài (buffer) lớp áo giáp (jacket) – tùy theo tài liệu sẽ có tên gọi khác nhau. Strength member là lớp chịu nhiệt, chịu kéo căng, thường làm từ các sợi Kevlar. Buffer thường làm bằng nhựa PVC, bảo vệ tránh va đập, ẩm ướt. Lớp bảo vệ ngoài cùng là Jacket. Mỗi loại cáp, tùy theo yêu cầu sử dụng sẽ có thêm các lớp jacket khác nhau. Jacket có khả năng chịu va đập, nhiệt và chịu mài mòn, bảo vệ phần bên trong tránh ẩm ướt và các ảnh hưởng từ môi trường.
Có hai cách thiết kế khác nhau để bảo vệ sợi cáp quang là ống đệm không chặt (loose-tube) và ống đệm chặt (tight buffer).
Loose-tube thường dùng ngoài trời (outdoor), cho phép chứa nhiều sợi quang bên trong. Loose-tube giúp sợi cáp quang “giãn nở” trước sự thay đổi nhiệt độ, co giãn tự nhiên, không bị căng, bẻ gập ở những chỗ cong.
Tight-buffer thường dùng trong nhà (indoor), bao bọc khít sợi cáp quang (như cáp điện), giúp dễ lắp đặt khi thi công
Cáp quang xuyên đại dương
Đường dây cáp quang đầu tiên xuyên Đại Tây Dương sử dụng loại sợi quang TAT-8, được xây dựng và đi vào hoạt động năm 1988. Do có đường đi rất dài, nên đường dây cáp quang dưới biển được trang bị các bộ lặp tín hiệu đặc biệt, giúp tín hiệu được xuyên suốt. Mỗi một bộ lặp này được trang bị trên các sợi quang học, có một bộ khuếch đại quang học thể rắn, đo lường tín hiệu và điều chỉnh lỗi.
Tìm hiểu cáp quang và câu chuyện đứt cáp biển tại Việt NamTìm hiểu cáp quang và câu chuyện đứt cáp biển tại Việt Nam
 


 

 Tính đến năm 2012, các nhà khai thác đã lắp đặt thành công những tuyến cáp quang dưới biển dài tới 6.000km với vận tốc truyền dữ liệu lên tới 100Gb/s.
Cho đến nay, các tuyến cáp biển đóng vai trò vô cùng quan trọng, liên kết vệ tinh ở nước ngoài chỉ chiếm 1% của lưu lượng truy cập Quốc tế, trong khi phần còn lại được thực hiện bởi cáp ngầm dưới biển. Trong khi liên kết vệ tinh chỉ cung cấp tốc độ vài megabit mỗi giây cùng độ trễ cao, thì tổng hiệu năng của các tuyến cáp biển có thể lên đến vài terabit mỗi giây cùng với độ tin cậy cao, độ trễ thấp.
Những tuyến cáp biển trị giá hàng trăm triệu USD không chỉ được các công ty xây dựng và vận hành chúng quan tâm vì lợi nhuận, mà còn được Chính phủ các Quốc gia xem như một trong những tài sản quốc gia cần được bảo vệ. Ví dụ như Chính phủ Úc xem hệ thống cáp biển của nước mình có tầm quan trọng và ảnh hưởng rất lớn với nền kinh tế quốc gia, do đó Chính phủ đã tạo ra những vùng bảo vệ đặc biệt để hạn chế các sự cố có thể gây đứt cáp.
Các sự cố, rủi ro và sửa chữa cáp biển
Cáp biển có thể gặp sự cố, bị đứt bởi tàu đánh cá, neo của tàu vướng phải, có thể do động đất hoặc thậm chí bị cá mập cắn đứt. Dựa trên khảo sát tại vùng biển Đại Tây Dương và Caribe, người ta thấy rằng ít hơn 9% nguyên nhân là do tự nhiên. Nguyên nhân chủ yếu là do lưới hoặc neo của các tàu đánh cá bị vướng vào đường dây cáp, để gỡ ra các ngư dân có thể đã lặn xuống và cắt đường dây cáp.
Trong thời kỳ chiến tranh, cắt cáp biển cũng được xem như một cách phá hoại quốc gia đối địch, hoặc dùng với mục đích để đẩy lượng thông tin dồn về tuyến cáp đang được giám sát để thu thập được thông tin của kẻ địch. Việc giám sát các tuyến cáp dưới đáy biển là công việc hết sức khó khan. Trong chiến tranh lạnh, Hải quân Mỹ và NSA đã thành công trong việc đặt các thiết bị theo dõi trên các tuyến cáp thông tin liên lạc của Liên Xô.
Dưt cap quang bien.jpg
 

Trung tâm ở đất liền có thể xác định tương đối vị trí cáp bị đứt bằng cách đo điện. Một tín hiệu quang phổ Spread được phát đi, sau đó họ quan sát tín hiệu phản hồi của nó. Bằng các thuật toán và đo thời gian, họ có thể tính toàn khoảng cách và xác định được vị trí gặp sự cố.
Sau khi đã xác định được vị trí, một tàu sửa chữa cáp sẽ được gửi đi. Khi đến được vị trí đường dây cáp gặp sự cố, các thợ lặn sẽ có nhiệm vụ xác định chính xác đoạn cáp bị đứt. Sau đó một cánh tay cần cẩu sẽ được thả xuống đáy biển để đưa dây cáp lên boong tàu và tiến hành nối lại. Ở những vùng nước nông, người ta có thể sử dụng một tàu ngầm mini để tiến hành việc sửa chữa.
Chuyện đứt cáp quang biển ở Việt Nam
Chiều tối ngày 20/12, một sự cố đã xảy ra khiến tuyến cáp quang AAG (Asia America Gate Way) phân đoạn Vũng Tàu - Hồng Kông bị đứt, khiến cho 60% lưu lượng Internet của các nhà cung cấp dịch vụ Việt Nam bị ảnh hưởng.
Theo thông tin được đơn vị điều hành tuyến cáp quang biển quốc tế AAG công bố thì sự cố xảy ra vào hồi 18 giờ ngày 20/12 (theo giờ Việt Nam). Vị trí xảy ra sự cố cách bờ Vũng Tàu khoảng 278km. Sự cố này khiến tốc độ truy cập Internet của các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông tại Việt Nam đang khai thác trên tuyến cáp này đều bị ảnh hưởng.
Tìm hiểu cáp quang và câu chuyện đứt cáp biển tại Việt Nam
 

AAG là một trong những hệ thống cáp ngầm xuyên đại dương lớn nhất thế giới, với độ dài hơn 20.000km, kết nối Đông Nam Á với nước Mỹ, thông qua Thái Bình Dương, được đưa vào sử dụng từ tháng 11/2009. Kể từ khi đưa vào sử dụng cho đến nay, tuyến cáp này đã không ít lần gặp sự cố, hầu hết xảy ra sụ cố trong phân đoạn nối liền giữa Hồng Kông và Singapore.
Dường như đứt cáp đã trở thành một sự kiện thường niên, tạo nên sự khác biệt của Internet Việt Nam. Search thông tin đứt cáp quang biển các năm 2012, 2011, 2010, 2009 hay đến tận năm 2004 đều có hai chữ “Việt Nam” gắn liền. Những sự cố xảy ra liên tiếp hàng năm khiến người ta đặt dấu chấm hỏi cho chất lượng của tuyến cáp quang biển này, cùng những nguyên nhân chưa bao giờ được làm rõ.
Quay ngược thời gian lại năm 2007, khi người ta phát hiện ra việc ngư dân Việt Nam “khai thác” tuyến cáp quang biển TVH, hay nói cách khác là cắt cáp rồi mang đi bán phế liệu. Gần 100km cáp quang TVH đã bị “khai thác” triệt để. Mặc dù có nhiều nguồn tin cho rằng các thương lái của Trung Quốc thu mua cáp quang phế liệu với giá rất cao khiến các ngư dân nổi lòng tham mà lặn xuống biển cắt trộm cáp quang.
Tìm hiểu cáp quang và câu chuyện đứt cáp biển tại Việt Nam
 

Tuy nhiên sự thật câu chuyện năm đó là do cái công văn của UBND tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu cho phép bộ đội biên phòng tỉnh "phối kết hợp" với tư nhân thu gom "cáp phế liệu" - tức đường cáp quang được kéo trước 1975 trên biển - tại các tọa độ "đã xác định trước". Nếu chỉ như thế thì đã không có chuyện gì xảy ra. Nhưng vì dân mình đâu có khả năng phân biệt tọa độ nào "đã được xác định trước" và tọa độ nào "chưa được xác định", càng không có khả năng phân biệt tuyến cáp nào là "cáp trước 1975" còn tuyến cáp nào đang hoạt động (tuyến TVH) một khi chúng đều chìm dưới biển. Vả chăng, khi người này khai thác được thì người khác "thấy người ta ăn khoai cũng vác mai đi đào", họ có biết đâu, hoặc có biết cũng mặc kệ, là có thể "khai thác" tuyến cáp nào đã bỏ, và không được phép "khai thác" tuyến cáp nào đang hoạt động, đang là "mạch máu thông tin của quốc gia".
Rồi sau đó lại đến câu chuyện thuyền đánh cá của ngư dân vướng vào cáp quang dưới biển và vô tình làm đứt. Trong khi đó cấu tạo của tuyến cáp quang dưới biển đã được các nhà khoa học tính toán kĩ lưỡng để có thể chống chịu sức ép cũng như các lực tác động từ bên ngoài. Thật khó hiểu khi một tuyến cáp quang trị giá tới 500 triệu USD và mới được triển khai từ năm 2009 lại liên tiếp gặp sự cố trong thời gian qua.
Tham khảo: Wiki